Nhắn tin và trở thành giám khảo các cuộc thi tìm kiếm ngôi sao. Đăng ký và trở thành “tương tác” của các sân chơi truyền hình. Xung phong và thành ca sĩ “hát cùng ngôi sao”. Sáng tác, viết nhật ký và tự do xuất bản trên mạng, trên blog. Viết gì thì viết, bôi gì thì bôi - họa sĩ đề nghị và người xem trở thành người cùng sáng tạo một tác phẩm installation…
Nếu đợt “cách mạng văn hóa” lần đầu tiên tới Việt Nam sau 200 năm kể từ ngày đầu tiên xuất hiện trên thế giới, lần thứ hai sau gần một thế kỷ, đợt thứ ba cũng còn chậm cả 50 năm thì đợt sau cùng đang diễn ra gần như đồng thời. Đồng thời nhưng rất khác biệt.
Ở các nước phát triển, mức sống và trình độ văn hóa của đại chúng cao hơn hẳn do họ được giáo dục, được tích lũy cả mấy trăm năm nay. Thành tựu văn hóa tinh hoa, văn hóa bác học được dân họ sử dụng, tiêu thụ hằng ngày.
Các cuộc “nổi loạn” của văn hóa “phi chính thống” trên nền “văn hóa nền” khá cao chống lại dòng hàn lâm cổ hủ thường khơi mào, làm động lực cho các phát triển mới.
Ở ta, văn hóa hàn lâm được du nhập hời hợt hoặc “tự phong” dễ dãi nhưng lại được chính thống hóa, thực chất là hành chính hóa quá nhanh, khô cứng quá nhanh.
Chất lượng các danh hiệu, các giải thưởng, các bằng cấp như chuyện hài hước. “Em” nào cũng sau bấy nhiêu hội diễn, cuộc thi sẽ thành ƯT (NSƯT) hay ND (NSND), anh nào làm tượng đài cũng phải tự nhận là xấu rồi sau lại mang ra xin Giải thưởng Nhà nước, giải Cánh diều vàng chiếu rạp có 1 người xem!...
Những thứ “chính thống” đó chẳng ưu tú gì và nhân dân không xem, không nghe, không biết tới! Đó chẳng là một sự bất bình đẳng lớn, là sự thiếu dân chủ lớn đối với người dân phải đóng thuế sao?
Tinh hoa, chính thống chưa ra đâu vào đâu mà lối sống “văn hóa dân gian” (đại chúng) lại phổ biến. Văn hóa “báo tường”, văn nghệ theo ngành nghề, địa phương từ đặc công tới thủy sản, từ vùng tới tỉnh, huyện, xã được hành chính hóa thô vụng.
Văn nghệ dân gian thực thụ thì tàn lụi rồi nhưng văn nghệ nghiệp dư... thì lại tràn lan dai dẳng.
Văn nghệ ở ta thiếu tính chuyên nghiệp còn nằm ở chuyện thứ ba là thang giá trị (hay nói khác là những cái chuẩn về giá trị của văn nghệ) - do quan liêu và nghiệp dư - nên không thuyết phục, không thể đồng thuận.
Với xã hội hóa văn nghệ, quyền định giá giờ đây được trao cho hai cơ chế: hoặc quan liêu hành chính, hoặc công chúng với “văn hóa nền” thấp, bình chọn. Cả hai đều bất cập!
Hiện tượng ai cũng có thể thành họa sĩ, nhà thơ, nhạc sĩ, làm phim, viết kịch... là thường. Một người vừa làm tướng, vừa làm báo, vừa là doanh nhân, vừa viết đủ thứ, vẽ tranh, làm nhạc, tự bày tranh, in sách, thu đĩa... có phê bình trợ giúp quảng cáo, tiếp thị và bán... là thường.
Các trò chơi, truyền hình tương tác, phim tư nhân, các hoạt động và tác phẩm liên ngành vừa mỹ thuật vừa âm nhạc, vừa sân khấu vừa thơ... là thường.
Các cuộc ai cũng bình chọn từ hoa hậu, 100 bài lục bát... tới Vietnam Idol, Sao Mai hay Triển vọng... là thường.
Các triển lãm, vở diễn, sách, cuộc thi ảnh, ngày văn hóa... có yếu tố ngoại cả về tổ chức lẫn sáng tạo và thưởng thức diễn ra ở quốc nội hay quốc ngoại... là thường.
Nên bỏ thói quen nhìn mọi thứ bằng con mắt hành chính, quan liêu có thang bậc, có quy chế. Sự tham gia của công chúng vào sáng tạo, định giá, tiêu thụ văn nghệ luôn là tích cực.
Những nỗ lực khuếch trương, phục hồi các di sản văn hóa văn nghệ từ ca trù, nhạc cung đình, đờn ca tài tử, cải lương, tới múa rối, điêu khắc... việc phục hồi các lễ hội gắn với du lịch cũng là rất hay.
Người của công chúng và các fan là hai sản phẩm đương nhiên của thị trường văn hóa đại chúng, không nên bắt chúng phải đồng nghĩa với giá trị nghệ thuật vĩnh cửu.
Văn nghệ đại chúng buộc chính quyền phải đánh giá lại thứ văn nghệ mình bảo trợ, nâng dần chất lượng lên, cố mà thu hút công chúng, đặt thứ văn nghệ làm bằng tiền thuế phải “sáng tạo hay là chết”.
Đồng thời sự “nhốn nháo” và “thị hiếu thấp” của văn nghệ đại chúng cũng buộc chính quyền phải đầu tư cho giáo dục nghệ thuật một cách thường xuyên và căn bản hơn.
Dân chủ hóa nghệ thuật là rất hay, nhưng Marx cũng nói: “Muốn thưởng thức nghệ thuật thì phải được giáo dục về nghệ thuật và lịch sử loài người là lịch sử đào luyện các giác quan”.
Nguyễn Quân
|